CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

phiếu hướng dẫn

Cơ quan giải quyết: UBND Huyện Gò Công Tây
Lĩnh vực: Đăng ký, quản lý cư trú
Thủ tục: Cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam cư trú trong nước để đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài
Cách thức thực hiện

Trực tiếp tại cơ quan hành chính nhà nước

Thành phần hồ sơ cần nộp

- Tờ khai cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (Mẫu TP/HT-2013-TKXNHN - Thông tư số 9b/2013/TT-BTP);
- Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;
- Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu;
- Trường hợp công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
* Lưu ý:
Bản sao các giấy tờ trong hồ sơ phải được chứng thực hợp lệ; trường hợp bản sao giấy tờ không có chứng thực thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu.

Lệ phí

8.000 đồng/trường hợp.

Yêu cầu điều kiện thực hiện
- Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó để làm thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.
- Trường hợp công dân Việt Nam không có đăng ký thường trú nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký tạm trú của người đó thực hiện cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.
- Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bị từ chối trong các trường hợp sau đây:
+ Đề nghị cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để kết hôn với người nước ngoài tại Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện Lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam;
+ Kết quả kiểm tra, xác minh cho thấy tình trạng hôn nhân không đúng với tờ khai trong hồ sơ, các bên không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình của Việt Nam;
+ Kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên chưa có sự hiểu biết về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau, không hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, tạp quán, văn hóa, pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước;
+ Việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, kết hôn giả tại không nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững; lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích mua bán người, bốc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc vì mục đích trục lợi khác.
Số lượng hồ sơ

01 bộ